Đăng nhập  
KHOA HỌC Y DƯỢC
HỎI ĐÁP VỀ PHÁP LUẬT
KHOA HỌC KỸ THUẬT
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
KỸ THUẬT NUÔI CÁC LOÀI GIA SÚC KHÁC
 
CƠ SỞ DỮ HỎI - ĐÁP KHOA HỌC KỸ THUẬT
Bệnh sỏi mật là gì? Triệu chứng và các biện pháp điều trị?

 

Sỏi mật là bệnh gây ra do có những viên sỏi (nhỏ hoặc tao, hoặc bùn) nằm trong lòng ống mật (trong gan hoặc ngoài gan, túi mật). Sỏi mật đứng hàng thứ hai sau viêm gan các loại. Ở Châu Âu và Châu Mĩ bệnh sỏi túi mật chiếm 90%, sỏi đường mật chiếm 10%. Ở Việt Nam ngược lại, sỏi đường mật chiếm 95%, sỏi túi mật chiếm 4-5%. Phân bố sỏi còn phụ thuộc giồng người, điều kiện địa lí và chế độ ăn uống. Ở các nước Châu Phi, vùng sa mạc Sahara, ở các vùng Viễn đông ít bệnh nhân bị sỏi mật. Ở Tây - Nam Mĩ sỏi gặp nhiều hơn, dân da đỏ Pima của Mĩ mắc sỏi mật 70%. Ở các nước Tây Âu và Nam Mĩ sỏi mật gặp 10-30% dân số (sỏi cholesterol). Ở Pháp nhóm người trên 20 tuổi một số địa phương thấy sỏi và nghi có sỏi khoảng 11,7%.

Mật của người bình thường

Các axit mật: ở người bình thường tế bào gan tổng hợp từ cholesterol thành các axit mật nguyên thuỷ(primarybile axit):

Axit cholic (nồng độ trong huyết thanh bình thường: 1mcmol/l)

Axit chenodesoxycholic (bình thường: 1,3 mcmol/l).

Axit cholic chuyển thành: desoxycholic (bình thường 1mcmol/l).

Axit chenodesoxycholic thành: lithocholic (có vết).

Hầu như toàn bộ axit lithocholic được đào thải theo phân, các axit khác đại bộ phận được tái hấp thu qua ruột theo hệ thống gánh về gan để tái tổng hợp và bài tiết vào mật.

Cholesterol: ngoài tổng hợp ra axit mật, gan còn tiết ra cholesterol vào mật với tỉ lệ 1g cholesterol/1 lít mật.

Cholesterol là chất khong hoà tan trong nước nhưng hoà tantrong môi trường muối mật tạo thành dung dịch tan. Chất lecithin cũng là một thành phần của muối mật góp phần quan trọng cho sự hoà tan cholesterol và hình thành dung dịch mật.

Các tỉ lệ liên hợp trong mật ở người bình thường:

Tỉ lệ liên hợp muối mật với glyco so muối mật với tauro là: 3/1 (G/T: 3/1). Tỉ lệ muối mật (Bilealt) so với cholesterol lớn hơn: 10 (BS/C: lớn hơn 10), tỉ lệ photpholipit so với 1 phải lớn hơn 3 (PL/C lớn hơn 3).

Khi nào các tỉ lệ trên thay đổi: G/T tăng (G/T>3); BS/C giảm (BS/C<10); PL/C giảm (PL/C<3) dung dịch mật kết tủa, sinh sỏi mật.

Mật của người bình thường là môi trường nước. Cholesterol là chất chỉ tan trong mỡ, muốn tan trong mật cholesterol phải là chuyển thành dạng mixet hỗn hợp (đó là những phối hợp đại phân tử của cholesterol kị nước với những thành phần có cực axit mật và cực lecithin) một cực ưa nước làm cho chúng tan trong nước, và một cực kị nước cố định 1. Yếu tố quyết định sự tan được của cholesterol chính là tỉ lệ.

Muối mật + lecithin

Cholesterol

Admirand và Small đã dùng một sơ đồ ba chiều ghi tỉ mỉ tỉ lệ % của cholesterol, muối mật và lecithin trên mỗi cạnh sơ đồ này.

Sơ đồ sự hình thành: Micel cắt nghĩa tại sao nhờ có micell mà cho cholesterol có thể xen kẽ vào giữa các phân tử muối mật và lecithin do đó không bị kết tủa. Các micel tạo thành một “đĩa” hoà tan trong nước, bởi vì phần có cực của muối mật và lecithin thì ở phía ngoại vi còn phần vô cực ở phía trung tâm do đó một số lớn phân tử cholesterol len lỏi giữa các phân tử lecithin, cholesterol không tiếp xúc với nước nên không bị kết tủa. Các micel muối mật lecithin có hiệu quả hơn các phân tử muối đơn độc để chống lại sự kết tủa cholesterol. Tuy nhiên sự hoà tan của cholesterol cũng có giới hạn vì phụ thuộc vào lượng lecithin và muối mật như bàn sơ đồ Admirand và Small đã trình bày ở trên.

Cơ chế sự hình thành sỏi mật

Sự hình thành sỏi mật loại cholesterol: Vì một lí do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỉ lệ: mức độ cholesterol tăng lên, mức độ chất làm tan (muối mật - lecithin) giảm xuống (như trên đã nói) cholesterol có xu hướng kết tủa tạo nên những vi thể tinh thể, đó là những hạt tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Ta gọi dạng mật đó là mật sỏi. Mặt khác chứng minh gan chứ không phải túi mật là cơ quan sản xuất ra sỏi. Còn tại sao gan lại tiết ra mật dạng sỏi thì chưa rỏ. Hiện nay, chúng ta mới biết những yếu tố liên quan tới sự hình h thành sỏi mật cholesterol.

Bảo hoà cholesterol: Sự bài tiết cả ba chất muối mật - lecithin và cholesterol lúc đầu song song với nhau, nhưng đến một thời điểm nào thì sự bài tiết cholesterol giữ ở mức cao nguyên và giảm xuống chậm chạp, trong khi đó sự bài tiết muối mật - lecithin tiếp tục tăng cao và giảm xuống nhanh hơn cholesterol, như vậy sẽ tạo ra một thời kì bão hoà cholesterol. Thời kì bão hoà sẽ đưa tới kết tủa cholesterol.

Những trường hợp làm giảm bài tiết muối mật: bệnh ở ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; béo: dự trữ muối mật giảm, bài tiết muối mật tăng nhanh nhưng không bài tiết muối mật.

Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: Chế độ ăn giàu calo: làm tăng tổng hợp cholesterol; thuốc oestrogene, clofibrat: làm tăng tổng hợp cholesterol.

Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước do đó làm cho cholesterol được cô đặc hơn, mặt khác túi mật tiết ra mucus, chất này có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này:

Trứng giun đũa hoặc vỏ xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào trứng giun vì vỏ ngoài của trứng giun cứng, sần sùi như hình răng cưa (nhìn được dưới kính hiển vi).

Giun đũa lên đường mật là yếu tố quan trọng tạo nên sỏi mật vì nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật. Khi bám vào thành ống mật, giun tạo nên những vết loét xước, sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thuỳ gan. Phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần. Các yếu tố trên thúc đẩy sự hình thành sỏi.

Vị trí sỏi mật

Ở các nước Âu - Mĩ sỏi túi mật là chủ yếu sau đó là sỏi đường mật; sỏi túi mật: 46%; sỏi túi mật và ống mật: 6,6%, sỏi túi mật: 15,5%; sỏi túi mật và ống choledoque: 10.3%, sỏi choledoque: 12,21%.

Ở Việt Nam sỏi chủ yếu là choledoque sau đó là sỏi trong gan và túi mật. Thống kê của Viện quân y 103, trên 105 ca mổ sỏi mật (1991-1992) cho thấy:

Sỏi choledoque đơn thuần: 38/14: 36,5%, sỏi choledoque + sỏi gan 2 bên: 22/104: 21,1%, sỏi trong gan đơn gthuần : 12/104: 11,5%, sỏi choledoque + sỏi gan trái: 10/104: 9,6%, sỏi choledoque + sỏi túi mật: 5/104: 4,8%, sỏi túi mật đơn thuần: 2/104: 1,9%. sỏi túi mật + sỏi gan hai bên: 1/104: 0,96%, sỏi túi mật + sỏi gan tráo: 1/104: 0,96%.

Sỏi choledoque + sỏi túi mật + sỏi gan 2 bên: 1/104: 0,96%, không gặp trường hợp nào có sỏi nằm ở ống túi mật.

Cấu tạo sỏi mật

Sỏi hỗn hợp: 52%, thành phần gồm: Cholesterol: 94%, Canxium: 2%; Sắc tố mật: 3%. Đặc điểm: có tính cản quang, thường có nhiều viên sỏi, các sỏi có hình vòng tròn đồng tâm.

Sỏi cholesterol đơn độc: 14,8%. Đặc điểm: sỏi này không cản quang, thường chỉ có 1 hòn sỏi, hình tròn hay bầu dục màu vàng xám hay màu ngà sẫm.

Sỏi sắc tố: 3,2% (sắc tố mật và caxium): sỏi nhỏ cứng, màu xanh nâu hoặc xanh sẵm hoặc màu đen óng ánh ké cản quang.

Sỏi canxi cacbonate: 30% (có hoặc không phối hợp với bilirubin và canxi): có tính cản quang.

Các sỏi trên đôi khi hình thành sỏi nhỏ như cát hoặc sỏi bùn, vì vậy triệu chứng lâm sàng không điển hình và việc phát hiện sỏi bằng X quang, siêu âm có khó khăn.

Triệu chứng học

Triệu chứng học chung (không phân biệt vị trí, số lượng sỏi).

Lâm sàng

Dấu hiệu cơ năng

Đau bụng: Đau hạ sườn phải, kiểu đau quặn gan. Xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau về đêm (lúc 22-24h). Khi đau kèm theo nôn, không giám thở mạnh. Cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày.

Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, sợ mỡ, táo bón, ỉa chảy sau bữa ăn.

Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, nôn nhiều.

Sốt (do có viêm đường mật, túi mật), nếu không viêm thì không sốt, nếu sốt: sốt cao đột ngột kéo dài ba giờ; sốt và và đau hạ sườn phải đi đôi với nhau (đau nhiều thì sốt cao). Sốt xảy ra sau cơn đau (có khi cùng hoặc trước); có khi sốt kéo dài vài tuần, hàng tháng, sốt nhẹ 37,5oC-38oC.

Vàng da: xảy ra ở niêm mạc sau đau và sốt 1-2 ngày; khi tắc mật (da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc); có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm. Vàng da mắt đi chậm hơn đau và sốt.

Tam chứng: đau - sốt - vàng da (tam chứng Charcot) tái phát nhiều lần, giữa các đợt cách vài tuần, vài tháng hoặc vài năm.

Dấu hiệu thực thể

Gan to: đều (từ mấp mé đến 5-6 cm) tuỳ mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức.

Túi mật: túi mật to cùng với gan, túi mất to, khi sờ nắn đau.

Có thể có co cứng vùng hạ sườn phải.

Xét nghiệm

Xét nghiệm máu và dịch mật

Máu: bilirubin toàn phần tăng (bình thường: 17 mcm/mol) loại kết hợp tăng.

Dịch mật: Nối đậm âm có bóng cản âm hoặc không; sỏi to thành hình vòng cung đậm âm, bóng cản âm rõ; sỏi túi mật di động; thường thành túi mật dày (bình thường 0.3mm); bùn mật: túi mật thành hình 2 lớp: trên là dịch mật trong (rỗng âm) dưới là đặc (đậm âm), giữa 2 lớp là đường ranh giới ngang.

Sỏi ống mật: Sỏi to: có một hay nhiều hình đậm âm tròn, bầu dục trong lòng ống mật cắt dọc hoặc cắt ngang, bị hoàn toàn hoặc một phần ống mật phía sau sỏi thường có bóng cản âm.

Sỏi nhỏ; sỏi bùn: không có bóng cản âm, ống mật phía thượng lưu của hòn sỏi bị giãn vừa (1,5cm) đến giãn đều (2,5cm).

Chụp bụng không chuẩn bị phim thẳng và nghiêng phải: Thấy hình cản quang vuông, hoặc tròn nằm bên phải (phim thẳng), trước cột sống (phim nghiêng phải) là sỏi của túi mật.

Chụp túi mật có chuẩn bị: Dùng các chất: bột bilirtrast hoặc pheniođol uống.

Nếu túi mật ngấm thuốc: thấy hình sỏi (hõm khuyết không có thuốc cản quang) hình tròn, ít, to, nhỏ. Sỏi cholesterol hoặc bilirubin có hình tròn giữa một đám mờ cản quang. Nếu là sỏi cản quang (canxium) các hình được bao quanh bởi một quầng sẫm màu nâu; nếu túi mật không ngấm thuốc: do túi mật mất khả năng cô đặc mật vì thành túi mật hư hỏng hoặc lưu thông giữa ống túi mật và ống mật chủ bị tắc. Cần tìm cách khác.

Sỏi ổ bụng: Túi mật có sỏi thường nhỏ, thành dày màu xà cừ, có khi khó nhìn thấy vì bị các mảng dính che phủ.

Chụp đường mật ngược dòng: Bơm thuốc cản quang vào đường mật qua ống oi tá tràng nhìn bên, thuốc vào toàn bộ hệ thống mật, tuỵ sẽ cho ta biết vị trí sỏi.

Triệu chứng học riêng (theo từng thể lâm sàng).

Thể theo triệu chứng

Thể điển hình: Có cơn đau quặn gan điển hình:

Rất điển hình: Có tam chứng Charcot tái phát nhiều lần. Có hội chứng tắc mật (vàng da, phân bạc, gan to, túi mật to).

Tương đối điển hình: Có tam chứng Charcot. Hội chứng tắc mật không đầy đủ.

Ít điển hình: Có tam chứng Charcot. Không có hội chứng tắc mật ở lâm sàng.

Thể không điển hình: Không có cơn đau quặn gan điển hình, hoặc có

cơn đau quặn gan nhưng thiếu các dấu hiệu khác (vàng da, sốt).

Có hội chứng tắc mật (vàng da, gan to, túi mật to) nhưng không có cơn đau quặn gan hoặc đau nhẹ hạ sườn phải.

Có cơn đau quặn gan điển hình nhưng không vàng da, khám thấy gan không to, túi mật to.

Thể theo vị trí

Sỏi ở bóng Vacter: đủ hai hội chứng (tam chứng Charcot + hội chứng tắc mật).

Sỏi ống mật chủ: triệu chứng đầy đủ như trân nhưng có một số trường hợp không điển hình, vì ống choledoque có thể giãn rất to làm cho triệu chứng tắc mật giảm bớt hoặc không có.

Sỏi ở ống mật và túi mật: Không có triệu chứng tắc mật. Có đau nhưng rất ít. Sốt nhiều và kéo dài. Khám thấy túi mật to và đau.

Sỏi đường mật lớn trong gan: nằm ở ống gan trái: Đau ít. Sốt cao và kéo dài. Triệu chứng tắc mật không đầy đủ (túi mật không to).

Thể phối hợp

Ngoài sỏi mật còn thêm bệnh khác:

Sỏi mật và xơ gan: thường là sỏi túi mật.

Tan huyết và sỏi mật: tan huyết nhiều và kéo dài có thể dẫn đến sỏi mật. Sỏi mật này thường là sỏi sắc tố mật.

Thể vi sỏi (sạn hoặc bùn sỏi)

Triệu chứng đau rất ít; sốt là chủ yếu và hay tái phát mỗi đợt 1-2 tuần. Triệu chứng tắc mật: ít gặp, nếu có thì không đầy đủ.

Thể nghèo hoặc không có triệu chứng

Hoặc chỉ có đau nhẹ hạ sườn phải âm ỉ, hoặc không đau.

Hoặc chỉ rối loạn tiêu hoá: kén ăn, chậm tiêu, sợ mỡ.

Sỏi “câm” không có triệu chứng phát hiện tình cờ (làm siêu âm bệnh khác của gan) thể này gặp 41-54 % tuỳ tác giả.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Dựa vào lâm sàng: có 3 tình huống:

Triệu chứng lâm sàng điển hình: Có tam chứng Charcot. Có hội chứng tắc mật. Bệnh tái phát nhiều lần. Bệnh cảnh lâm sàng như trên là chẩn đoán đúng sỏi mật 60-75%.

Triệu chứng lâm sàng không điển hình: Đau quặn gan không vàng dam không tắc mật. Hoặc có tắc mật nhưng không đau quặn gan.

Người bị sỏi mật đến viện để cấp cứu vì biến chứng: viêm phúc mạc mật: nhiễm trùng nặng, bụng cứng, vàng da.

Sốc nhiễm trùng: sốt, túi mật to, đau.

Chảy máu tiêu hoá: nôn máu có hình thỏi bút chì.

Đau bụng cấp: đau bụng nôn, chướng bụng.

Vì đau hạ sườn phải âm ỉ, rối loạn tiêu hoá không rõ lí do.

Dựa vào xét nghiệm: (các trường hợp còn nghi ngờ):

Lấy dịch mật: mất cả 3 mật ABC hoặc không trong mật có cặn sỏi; siêu âm thấy sỏi trực tiếp hay hình gián tiếp; chụp đường mật có thuốc cản quang (làm khi bilrubin dưới 30 mcm/mol); chụp mật ngược dòng; soi ổ bụng.

Các xét nghiệm hoá sinh chứng tỏ tắc mật.

Chẩn đoán phân biệt

Những trường hợp có hội chứng tắc mật

U đầu tuỵ: Tắc mật gây vàng da từ từ tăng dần. Không đau hạ sườn phải, không sốt. Chụp khung tá tràng thấy giãn rộng siêu âm: kích thước đầu tuỵ to, sinh thiết thấy thương tổn u.

Viêm vi quản mật tiên phát: Giai đoạn đầu vàng da tắc mật sốt và đau hạ sườn phải. Cuối cùng dẫn tới xơ gan, lách to. Thông tá tràng dịch mật vẫn bình thường. Chụp đường mật vẫn bình thường không tắc. Chẩn đoán bằng siêu âm và sinh thiết gan.

Ung thư bóng Vater và đường mật: Có hội chứng tắc mật đôi khi sốt. Tiến triển nhanh gầy sút. Không có tiền sử đau hạ sườn phải. Chụp đường mật siêu âm chẩn đoán xác định.

Những trường hợp vàng da không do tắc mật: Viêm gan siêu vi trùng: có trường hợp đau hạ sườn phải nhiều nhầm sỏi.

Viêm gan mạn nhầm vì: Có nhiều đợt sốt vàng da. Đau nhẹ vùng hạ sườn phải.

Biến chứng của loét dạ dày tá tràng: do thủng, dính vào đường mật gây ra: có những đợt sốt, vàng da, đau hạ sườn phải do viêm đường mật dễ nhầm là sỏi. Một số ca nhầm với huyết tán: Bệnh Gillbert hoặc Dubin Johson.

Những trường hợp đau hạ sườn phải

Gan có mủ: Đau dữ dội hạ sườn phải, chổng mông đỡ đau; có sốt, vàng da. X quang dạ dày: thấy thương tổn.

Rối loạn hoạt động túi mật: Đau hạ sườn phải (nếu nữ thường xảy ra lúc hành kinh, có thai). Không sốt, không vàng da. Chẩn đoán dựa vào lấy dịch mật định phút có rối loạn.

Viêm tuỵ cấp, mạn, sỏi tuỵ: Một số trường hợp đau vùng thượng vị, dễ nhầm viêm tuỵ, sỏi tuỵ.

Ung thư gan: gan có đau quặn lúc đầu dễ nhầm với sỏi mật.

Điều trị

Điều trị nội khoa

Chế độ ăn uống: Kiêng mỡ (nhất là mỡ động vật). Ăn giảm Kalo: 2000 kalo/24giờ. Uống các nước khoáng, nhân trần, actiso.

Kháng sinh: tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ dùng kháng sinh liều cao đánh nhanh, đánh mạnh chọn 1, 2 hoặc 3 trong các thuốc sau đây:

Colistin (viên nén 500.000 UI), liều 1v/10kg x 7 ngày. Liều cao có thể 12 triệu đơn vị/24 giờ. Cephalosorin (viên nhộng 500mg), liều 2g/24 giờ, nặng 2-3-4g/24 giờ. Aminocid (nang trụ 0.25), liều 2-4 lần x 125-250 mg/24 giờ. Ampicillin (viên 0,25, liều 4-8v/24giờ x 7-10 ngày. Gentamycin (ống 80mg), liều 1-2 ống/24 giờ, tiêm bắp.

Giãn cơ, giảm co thắt: Atropin (ống 1/2mg), liều 1ống/24 giờ tiêm dưới da. Spacverin (viên 0.04), liều 4v/24 giờ x 5-10 ngày.

Thuốc lợi mật: sufat magnesie: 3-5g/24 giờ. Sirô actisô: 30 ml/24giờ. Sorbitol 3g x 24 gói/24 giờ.

Các thuốc làm tan sỏi

Chỉ định: Viên sỏi nhỏ dưới 2 cm chưa bị canxi hoá, túi mật còn tốt. Bệnh nhân không thể mổ được. Đề phóng tái phát sau mổ sỏi.

Thuốc: Chenodesoxycholic axid (biệt dược: chenodex viên 250 mg, chenar 200 mg, chenofalkchenolite viên 250 mg).

Liều dùng: 12-15 mg/1kg/24 giờ dùng 6-24 tháng tới 3 năm. Kết quả khỏi: 50-70% (2/3 mất sỏi, 1/3 sỏi nhỏ lại).

Urodesoxycholic (biệt dược: delursan 250 mg, usolvan 200 mg, deatoit: 150mg). Liều 8-12 mg/kg/24 giờ từ 6 tháng đến 3 năm. Kết quả: tan sỏi 70-80%, ít biến chứng.

Các thuốc tan sỏi có biến chứng: ỉa chảy, enzym transanminaza tăng.

Điều trị khoa ngoại

Chỉ định phẫu thuật

Sỏi đường mật lớn: Mổ cấp cứ khi: Viêm túi mật hoại tử. Viêm phúc mạc mật. Viêm tuỵ cấp. Đau dữ dội dùng thuốc giảm đau mà không có kết quả. Chảy máu đường mật. Apxe đường mật dọa vỡ.

Mổ theo chương trình: Sỏi mật có biến chứng nhưng không cấp cứu như: viêm đường mật kéo dài. Tắc mật kéo dài không đỡ. Thủng vào nội tạng.

Sỏi mật không có biến chứng như: Bị tái phát nhiều lần. Tái phát chỉ vài ba lần nhưng mỗi lần đều dữ dội. Trên tuổi 60 nhưng không quá 65.

Chống chỉ định: Trên 65 tuổi. Thể lực quá gầy yếu. Có bệnh phối hợp (nhồi máu cơ tim, cao huyết áp).

Sỏi túi mật:

Sỏi không triệu chứng: Dưới 50 tuổi thì nên mổ (tử vong 0,18%) không nên điều trị nôi khoa. Tuổi từ 50-65 nếu túi mật không hoạt động nên mổ. Bệnh nhân trên 65 tuổi nên điều trị nôi khoa (thuốc tan sỏi).

Sỏi có triệu chứng: Bệnh nhân dưới 65 tuổi cần phải mổ. Bệnh nhân trên 65 tuổi không nên mổ, chỉ định thuốc tan sỏi.

Sỏi có biến chứng: Viêm túi mật cấp, viêm phúc mạc mật. Túi mật ứ nước (hydrocholécyste), hoá sứ (vésicule procelaine).

Ung thư túi mật, đường mật. Thủng vào các tạng.

Các phương pháp phá sỏi mật khác.

Lấy sỏi qua máy soi tá tràng nhìn bên: Qua ống soi tá tráng nhìn bên đưa dụng cụ lấy sỏi qua bóng vater vào ống choledoque tán sỏi rồi kéo sỏi ra. Thời gian làm xong một lần lấy sỏi 30-60 phút, tỉ lệ tử vong thấp.

Chỉ định: Sót sỏi sau mổ. Sỏi tái phát sau mổ. Các trường hợp có sỏi ở ống chooledoque nhưng không mổ được. Chỉ có 1, 2 viên sỏi kích thước không to quá. Điều trị nội khoa không kết quả.

Chống chỉ định: hầu như không có chống chỉ định.

Kết quả: lấy được sỏi 93-97%.

Biến chứng: 5-8,5% (chảy máu, viêm tuỵ cấp, viêm đường mật, thủng).

Tử vong: 0,5-1,3%.

Phát hiện và phá sỏi mật, sỏi thận bằng bộ máy làm sống lại quá khứ của một sóng siêu âm, mà Mathias Pink gọi là “tấm gương lật ngược thời gian”.

(theo Science Vie. 5/1994)

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Gia Lợi

Nguồn: Thư viện điện tử

Hệ thống Cơ sở dữ liệu Khoa học và công nghệ